Vụ Jose Padilla Kháng Án Tòa Tiểu Bang Kentucky Và Vấn Đề Trục Xuất

Thứ Tư, 07 Tháng Tư 201000:00(Xem: 95077)
Vụ Jose Padilla Kháng Án Tòa Tiểu Bang Kentucky Và Vấn Đề Trục Xuất
Mục di trú và bảo lãnh do Văn Phòng tham vấn di trú Robert Mullins International đảm trách hằng tuần, nhằm mục đích thông báo các tin tức thời sự liên quan đến vấn đề đoàn tụ gia đình, rất hữu ích cho quý vị nào quan tâm đến việc bảo lãnh thân nhân. Mọi đóng góp ý kiến xin liên lạc 1-800-411-0495

Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phán rằng các luật sự phải nói cho thân chủ biết rằng người di dân, nếu phạm tội và khai nhận là có tội, họ có thể bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Quyền được biết sự thật này là quyền hiến định của luật pháp Hoa Kỳ.

Phán quyết của Tối Cao Pháp Viện có nghĩa là các luật sư thụ lý những hồ sơ hình sự phải nói cho thân chủ của họ biết rõ rằng nếu khai nhận phạm tội có thể đưa đến việc trục xuất. Nói cách khác, luật sư phải biết hậu quả nghiêm trọng của luật di trú nếu khai nhận phạm tội và phải giải thích rõ ràng điều này cho thân chủ của mình.

Phán quyết trên là một yêu cầu quan trọng cho các luật sư cần phải cố vấn các thân chủ di dân - không có quốc tịch Mỹ - về hậu quả nghiêm trọng của việc khai nhận tội. Một số tiểu bang đã áp dụng yêu cầu này. Và một số tiểu bang khác lại cho rằng phí tổn cung cấp luật sư cho những bị can di dân nghèo sẽ lên rất cao vì tiểu bang cũng phải trả tiền cho những lời cố vấn di trú của luật sư.

Phán quyết kể trên phát xuất từ vụ án của Jose Padilla, một di dân đến từ nước Honduras. Padilla đã xin tòa thượng thẩm hủy bỏ lời thú tội liên quan đến ma túy năm 2001 tại tiểu bang Kentucky, đã đưa đến việc ông ta sắp bị trục xuất. Ông Padilla, một thường trú nhân sống ở Hoa Kỳ hơn 40 năm, nói rằng ông đã hỏi luật sư của mình nếu nhận tội sẽ ảnh hưởng ra sao đến diện di trú. Và luật sư của ông nói rằng không ảnh hưởng gì cả! Luật sư của Padilla nói không đúng và Padilla hiện đối diện với thảm trạng bị trục xuất.

Trong vụ án của Padilla, một luật sư khác đã kháng án lên Tối Cao Pháp Viện rằng việc cung cấp thông tin không đúng cho ông Padilla đã vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Sáu, đó là quyền được "giúp đỡ hữu hiệu của luật sư".

Tối Cao Pháp Viện đã chấp thuận việc kháng án này. Họ nói rằng trách nhiệm của chúng ta theo Hiến pháp là phải bảo đảm rằng không một bị can hình sự nào phải gánh chịu những lời cố vấn luật pháp thiếu hiểu biết và sai lạc. Điều này áp dụng cho cả công dân Mỹ và các thường trú nhân. Một luật sư phải thông báo cho thân chủ của họ biết rằng nếu khai nhận tội sẽ đưa đến thảm cảnh bị trục xuất. Điều này là một yêu cầu quan trọng vì việc trục xuất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thân nhân của người bị trục xuất đang sinh sống hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Sự việc kể trên ảnh hưởng ra sao đến cộng đồng người Việt Nam? Vào ngày 22 tháng Giêng năm 2008, chính phủ Hoa Kỳ và nhà cầm quyền Việt Nam đã ký một hiệp ước hồi hương, cho phép Hoa Kỳ trục xuất các thường trú nhân Việt Nam bị phạm tội, là những người nhập cư Hoa Kỳ sau ngày 12 tháng 7 năm 1995. Đây cũng là những người đã nhận được án lệnh cuối cùng bị trục xuất.

Truớc khi có vụ án Padilla, có hai hướng giải quyết cho các thường trú nhân Việt Nam bị đối diện với lệnh trục xuất. Hướng giải quyết đầu tiên là cấp chiếu khán loại U cho một số

nạn nhân của một số tội ác nào đó. Hướng giải quyết thứ hai là yêu cầu tòa hủy bỏ một bản án hình đã bị xử nhưng dựa trên những lý do không có hiệu lực về mặt pháp lý.

Tuy nhiên, trước khi có vụ án Padilla, luật pháp không cho biết rõ ràng là ai sẽ được hưởng hai hướng giải quyết kể trên. Nhưng với vụ án Padilla, luật pháp đã rõ ràng hơn: nếu luật sư của qúy vị không đưa lời khuyên nào hoặc cho những lời khuyên không chính xác dẫn đến hậu quả di trú do lời khai nhận tội của qúy vị, và vì thế quyền hiến định của qúy vị bị vi phạm. Qúy vị có thể xin ra tòa và yêu cầu hủy bỏ bản án đã tuyên.

Trước khi Hoa Kỳ và Việt Nam ký kết hiệp định hồi hương, một số luật sư đôi khi đã đã cho những lời cố vấn sai lạc mang lại hậu quả di trú nguy hại cho một số thường trú nhân Việt Nam phạm tội hình sự. Nhiều bị cáo được khuyên rằng "cứ nhận tội đi, vì Việt Nam sẽ không nhận nếu Hoa Kỳ muốn trục xuất qúy vị". Theo Tối Cao Pháp Viện, kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2010, những loại cố vấn sai lạc này sẽ vi phạm Tu Chính Án Thứ Sáu của qúy vị nhằm bảo đảm quyền được "giúp đỡ hiệu quả của luật sư".

Vì thế, các thường trú nhân người Việt Nam đã có lệnh bị trục xuất vì phạm tội nên tìm ngay những sự cố vấn pháp lý đúng đắn, nếu họ hội đủ điều kiện được bồi thường sau vụ án vì những lời khuyên không chính xác từ phía luật sư của họ. Nếu họ thực sự nhận những lời khuyên sai lạc hoặc không đầy đủ từ luật sư, họ sẽ có cơ hội được xóa án và đảo ngược quyết định trục xuất.

 

Hỏi Đáp Di Trú

- Hỏi: Năm 1999, luật sư của tôi khuyên tôi không kháng lại tội danh của mình. Luật sư cũng nói rằng tôi không nên lo âu về việc bị trục xuất vì chính quyền Việt Nam không nhận người Việt bị trả về. Luật mới sẽ có thể giúp tôi không?

 - Đáp: Đúng, điều xảy ra cho ông cũng gần giống như vụ án mới đây của ông Padilla và Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ nói rằng quyền Tu Chính Án Thứ Sáu của ông Padilla đã bị vi phạm, vì luật sư của ông ta không cho những lời khuyên chính xác hậu quả di trú sẽ mang lại cho ông ta.

 - Hỏi: Tôi đã khai nhận một tội trong qúa khứ và tôi được lệnh phải rời khỏi Hoa Kỳ. Vậy luật mới này có giúp được gì cho tôi không?

 - Đáp: Điều này còn tùy thuộc vào việc luật sư đại diện cho ông và những gì luật sư đã cố vấn cho ông về hậu quả di trú qua lời thú nhận tôi của ông. Nếu luật sư không cố vấn gì hết, ông sẽ có cơ hội xin mở lại hồ sơ phạm tội của mình.

 - Hỏi: Nếu tôi kháng án hồ sơ phạm tội của tôi và thắng án, lệnh trục xuất của tôi có được thay đổi không?

 - Đáp: Không, việc thay đổi lệnh trục xuất do vị chánh án di trú quyết đînh. Sau khi ông thắng được hồ sơ phạm tội, ông phải nộp đơn thỉnh cầu cứu xét hồ sơ với vị chánh án di trú.- Hỏi: Tôi đã phạm một tội hình sự trong quá khứ và mới đây được lệnh sẽ bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Làm sao tôi có thể biết việc này ảnh hưởng đến tôi ra sao?

Quý độc giả muốn có thêm tin tức cập nhật, xin theo dõi qua báo chí hay đón nghe chương trình phát thanh của chúng tôi vào mỗi tối thứ Tư từ 7PM và sáng Chủ Nhật từ 11:00AM, trên các làn sóng 1430AM, 1500AM, và 106.3FM. Hoặc liên lạc với một văn phòng Robert Mullins International gần nhất: Westminster: (714) 890-9933 , San Jose (408) 294-3888 (duy nhất tại đường số 1, không phải đường Monterey), Oakland-San Francisco: (510) 533-8228, Sacramento (916) 393-3388 hay Email: info@rmiodp.com.

 

Chủ Nhật, 02 Tháng Mười 2022(Xem: 57)
(Robert Mullins International) Ngày 26 tháng 9: Người dân California hiện có thể nhận được thẻ ID của tiểu bang, bất kể tình trạng di trú như thế nào, theo luật do Thống đốc Gavin Newsom ký vào ngày 23 tháng 9. Thống đốc Newsom cho biết ông tự hào thông báo luật này để hỗ trợ thêm cho cộng đồng người di dân của chúng ta. Một luật đã được thông qua vào năm 2013, cho phép cư dân California có bằng lái xe, nhưng dự luật được ký vào ngày 23 tháng 9 sẽ cho phép những người không lái xe có được thẻ ID do chính phủ cấp, ngay cả khi họ không phải là người nhập cư hợp pháp. Các chính trị gia California đang gọi những thẻ ID này là "giấy thông hành để tham gia kinh tế và xã hội", cho phép các cá nhân tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, nhận các phúc lợi của chính phủ và chăm sóc sức khỏe.
Chủ Nhật, 25 Tháng Chín 2022(Xem: 242)
(Robert Mullins International) Thông tin này dựa vào bản báo cáo của Trung Tâm Chiếu Khán Quốc Gia (NVC). Kể từ tháng 3 năm 2020, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đáng kể đến khả năng duyệt xét đơn xin chiếu khán nhập cư của Bộ Ngoại giao. Các đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ đang làm việc để tiếp tục các dịch vụ chiếu khán thông thường càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, đại dịch tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng đến số lượng chiếu khán mà các đại sứ quán và lãnh sự quán có thể xét duyệt. Vào những thời điểm khác nhau, quá trình duyệt xét của lãnh sự bị chậm lại hoặc tạm dừng vì các lệnh đóng cửa tại địa phương và toàn quốc; việc hạn chế đi lại; các quy định về kiểm dịch của nước sở tại; và nỗ lực của các đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19.
Chủ Nhật, 18 Tháng Chín 2022(Xem: 408)
(Robert Mullins International) Chương trình DACA đã tới lui tại các tòa án kể từ khi nó bắt đầu vào năm 2012. Một luật DACA mới đã được ban hành vào cuối tháng Tám. Ông Biden hy vọng sẽ tiếp tục DACA vì nó bảo vệ những người nhập cư đến Mỹ bất hợp pháp khi còn thơ ấu. Luật vẫn chưa đưa vào hiệu lực cho đến ngày 31 tháng 10 và nó vẫn là chủ đề của một vụ kiện tại Tòa án phúc thẩm khu vực 5. Vụ kiện đó tuyên bố DACA là bất hợp pháp. Vụ việc đó vẫn chưa xong và nếu có quyết định chống lại DACA thì chương trình sẽ cần phải lên Tòa án Tối cao một lần nữa. Chương trình DACA đã bị đóng đối với những đương đơn mới kể từ tháng 16 tháng 7 năm 2021 vì vụ kiện của tòa án liên Bang tại Texas, mặc dù chương trình vẫn cho phép gia hạn. Luật mới của ông Biden sẽ chưa có hiệu lực cho đến ngày 31 tháng 10. Chính quyền Biden hy vọng rằng việc ban hành một luật chính thức trong bộ luật liên bang sẽ bảo vệ chương trình trước tòa án liên bang.
Thứ Bảy, 10 Tháng Chín 2022(Xem: 463)
(Robert Mullins International) Vào ngày 24 tháng 8, một nhóm vận động trong lĩnh vực EB-5 đã đạt được thỏa thuận với Sở Di Trú Hoa kỳ. Thỏa thuận khẳng định cho các Trung tâm vùng đã được chuẩn thuận trước đây sẽ duy trì trạng thái uỷ quyền của họ và không cần xin lại quy chế Trung tâm vùng. Tất cả các Trung tâm vùng, bao gồm những trung tâm đã được chuẩn thuận trước tháng 3 năm 2022, vẫn phải nộp Mẫu đơn I-956 mới và phí nộp đơn $ 17,795 trước ngày 29 tháng 12 năm 2022. Các trung tâm vùng không cần phải đợi đơn I-956 chấp thuận. Họ có thể hoạt động ngay sau khi họ nộp đơn I-956. Các Trung tâm vùng được chấp thuận trước tháng 3 năm 2022, đơn I-956 của họ phải được xem xét trước khi có Trung tâm vùng mới.
Thứ Ba, 06 Tháng Chín 2022(Xem: 590)
(Robert Mullins International) Một cuộc phỏng vấn với Sở di trú là phần khó khăn nhất đối với người đến Hoa Kỳ có chiếu khán (visa) du lịch hoặc sinh viên du học khi kết hôn với một công dân Mỹ sau chỉ vài tháng đến Hoa Kỳ. Suy nghĩ đầu tiên trong đầu nhân viên di trú là "Làm sao họ có thể rơi vào lưới tình và kết hôn chỉ trong một thời gian ngắn như vậy?". Nhân viên Sở di trú có thể phỏng vấn cách ly hai người trong cuộc phóng vấn xin Thẻ Xanh. Nhân viên di trú có thể hỏi người chồng về màu sắc màn cửa trong phòng ngủ. Người chồng trả lời là "Xanh lá cây". Vợ anh ta trả lời cùng câu hỏi là "Xanh dương". Chỉ với những câu trả lời căn bản như vậy thôi, nhân viên di trú đã cố tìm những lý do để từ chối đơn xin điều chỉnh tình trạng cư trú.
Chủ Nhật, 28 Tháng Tám 2022(Xem: 672)
(Robert Mullins International) Một trong những thân chủ của văn phòng Robert Mullins International mô tả lần gặp gỡ nhân viên Sở di trú giống như "một cuộc phỏng vấn nín thở qua sông", rất hồi hộp và căng thẳng. Điều chẳng có gì ngạc nhiên về những cuộc phỏng vấn với nhân viên Sở di trú sẽ rất căng thẳng với tất cả mọi người, kể cả những cặp vợ chồng có mối quan hệ trong sáng vì chẳng có gì để che dấu cả. Kể cả những cặp vợ chồng thật nhất vẫn có thể hiểu lầm câu hỏi của nhân viên phỏng vấn hoặc bị mất trí nhớ trong một thoáng nào đó, làm cho họ đưa ra những câu trả lời sai hoặc không thể chấp nhận được. Giả định rằng có một mối tình chân thật nào đó, cả hai người đều biết rằng ngày hết hạn chiếu khán du lịch hoặc du học đã gần kề, vì thế họ không màng đến việc cần có thời gian dài quen biết nhau. Tuy nhiên, nhân viên Sở di trú lại rất quan tâm về việc này.
Thứ Hai, 22 Tháng Tám 2022(Xem: 894)
(Robert Mullins International) Kết hôn ở Việt Nam hoặc đợi kết hôn sau khi hôn phu-thê đến Hoa Kỳ, cách nào tốt hơn? Đây là thắc mắc chung của nhiều người trước khi chọn xúc tiến một loại hồ sơ bảo lãnh. Nhưng câu trả lời không dựa vào yếu tố tổng quát, mà còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của cá nhân liên hệ. Hồ sơ diện vợ chồng thường được Tòa lãnh sự tin tưởng hơn. Với diện hôn phu - thê, lãnh sự sẽ có thể muốn biết lý do chánh đáng nào hai người lại chọn cách không kết hôn ở Việt Nam? Ưu điểm của việc chọn lập một hồ sơ theo diện vị hôn phu-thê là thời gian duyệt xét nhanh hơn khoảng ½ thời gian xét diện vợ-chồng, có thể đem theo con riêng trên 18 tuổi nhưng dưới 21 tuổi. Người bảo lãnh và được bảo lãnh vẫn có thể thay đổi quyết định không tiến tới hôn nhân sau khi nhập cảnh Mỹ trước 90 ngày. Trong khi đó, khuyết điểm cũng không ít: Tự túc bảo trợ tài chánh mà không được nhờ người phụ bảo trợ. Nếu không may hồ sơ bị từ chối, người bảo lãnh không được kháng cáo hay lập một hồ sơ
Chủ Nhật, 14 Tháng Tám 2022(Xem: 994)
(Robert Mullins International) Nên bảo lãnh diện vợ - chồng hay hôn phu - thê? Bảo lãnh diện vợ - chồng không bảo đảm là hồ sơ sẽ được Lảnh sự dễ dàng chấp thuận, nhưng hồ sơ này sẽ dễ gây ấn tượng tốt đối với nhân viên lãnh sự hơn là hồ sơ hôn phu - thê. Bảo lãnh vợ - chồng thường đòi hỏi người bảo lãnh phải có ít nhất hai chuyến đi Việt Nam - một chuyến đi để gặp mặt trực tiếp và chuyến đi thứ hai để kết hôn. Đôi khi người bảo lãnh cần phải đi chuyến thứ ba chỉ để ký giấy hôn thú vì không đủ thời gian hoàn tất thủ tục xin hôn thú rất nhiêu khê trong lần thứ hai về Việt Nam. Đó là lý do tại sao một số người chọn bảo lãnh diện hôn phu - thê. Trong cả hai diện bảo lãnh vợ - chồng và hôn phu - thê, điều quan trọng nhất vẫn là bằng chứng liên lạc: emails, thư từ, hình ảnh, liên lạc qua các mạng xã hội, những chuyến về Việt Nam, v.v… Sở di trú đôi khi đòi hỏi phải có bản sao cùi vé máy bay, hoặc những trang trong sổ thông hành (passport) có đóng mộc ghi nhận ngày đến và rời khỏi Việt N
Chủ Nhật, 07 Tháng Tám 2022(Xem: 1106)
(Robert Mullins International) Một người vợ hoặc chồng là người ngoại quốc nhập cảnh Hoa Kỳ với loại chiếu khán (visa) phi-di-dân, không vi phạm diện nhập cảnh, có thể nộp đơn xin Thẻ Xanh nếu họ hợp lệ để xin chiếu khán di dân. Ngoài ra cũng có một số trường hợp nộp đơn xin thẻ xanh theo diện đầu tư EB-5 trực tiếp kinh doanh, hay lao động EB-3. Chúng tôi sẽ viết về 2 diện EB này trong những kỳ tới. Nếu qúy vị là khách du lịch với chiếu khán loại B-2, hoặc là sinh viên du học, hoặc nhập cảnh với chiếu khán miễn thị thực WT, qúy vị có thể nộp đơn xin Thẻ Xanh sau khi kết hôn với một công dân Mỹ.
Thứ Hai, 01 Tháng Tám 2022(Xem: 1108)
(Robert Mullins International) Tiếp theo phần 1 kỳ trước, việc nhận con nuôi quốc tế từ Việt Nam sang Hoa Kỳ đã không còn giới hạn đối với trẻ em có nhu cầu đặc biệt, trẻ em trên năm tuổi và trẻ em trong nhóm anh chị em ruột. Chúng tôi tiếp tục giai đoạn 4 đến 6 trong thủ tục xin nhận con nuôi gồm có 6 giai đoạn. Sau khi bạn chấp nhận được kết hợp với một đứa trẻ cụ thể, bạn sẽ nộp đơn lên USCIS để được chấp thuận tạm thời cho đứa trẻ đó nhập cư vào Hoa Kỳ bằng cách nộp Mẫu I-800, Đơn Yêu cầu Phân loại Người nhận con nuôi Công ước là Người thân ngay lập tức. USCIS sẽ đưa ra quyết định tạm thời về việc liệu đứa trẻ có đáp ứng định nghĩa của một người được chấp nhận Công ước hay không và có khả năng đủ điều kiện để được nhận vào Hoa Kỳ hay không.